[Học tiếng Nhật mỗi ngày qua sách] #02

Ai trong số chúng ta khi học tiếng Nhật cũng đều biết đến món ăn nổi tiếng của người Nhật đó là món sashimi 「刺身」.
刺身|さしみ; Âm Hán Việt đọc là Thích thân) là một món ăn truyền thống Nhật Bản mà thành phần chính là các loại hải sản tươi sống.

Sashimi được cắt thành từng lát mỏng có chiều rộng khoảng 2.5 cm, chiều dài 4 cm và dày chừng 0.5 cm, nhưng kích cỡ có thể khác nhau tuỳ vào loại nguyên liệu và người đầu bếp, ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu,tương, các loại gia vị như wasabi, gừng và một số loại rau nhất là tía tô,bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc một số loại tảo biển.

Món sashimi truyền thống của người Nhật

Món sashimi truyền thống của người Nhật

Quay trở lại với tên gọi của món ăn. Đã bao giờ bạn đặt câu hỏi, tại sao món này là “cắt/切る(魚をカットする)”mà tên món lại được dùng với động từ 刺す/さす có nghĩa dùng một vật gì đó nhọn để đâm, chọc, chích...Ví dụ như : 針で肌を刺す / Dùng kim châm vào da hay muỗi chích/đốt người (蚊は人を刺す)...
Sau đây là phần giải thích về điều này được trích từ cuốn “常識として知っておきたい日本語” của tác giả 柴田 武
“「刺身」は忌み言葉だという説がある。”切る”という言葉を嫌って”刺す”と言いかえたのだろうという。なるほど、婚礼などのおめでたい席で”切る”は禁句だ。それでも離婚するカップルが多いのは、”刺身”でなく、”切身”を食べすぎたのか。

Người ta nói rằng sashimi là một từ kiêng kỵ trong tiếng Nhật. Có lẽ người ta không muốn dùng từ 切る nên đã thay thếbằng từ ”刺す bởi quan niệm là từ 切る liên tưởng đến sự xui xẻo, chia cắt, chia ly. Hóa ra là vậy, vậy nên trong các dịp vui mừng như hôn lễ đám cưới, ”切る” là từ cấm kỵ “. Vậy nhưng vẫn có nhiều cặp vợ chồng vẫn ly dị, chắc là do họ ăn nhiều ”切身” chứ không phải là ”刺身 đâu nhỉ? “Hihi

Trong bài trên chúng ta học được một từ rất hay, đó là 忌み言葉(いみことば)có nghĩa là từ kiêng kỵ, tránh dùng đặc biệt trong các dịp quan trọng...bởi quan niệm từ đó liên tưởng đến những điều không hay sẽ khiến người ta gặp những điều xui xẻo.

Ví dụ như trong đám cưới thì họ tránh dùng những từ có ý nghĩa chia cắt như 去る/ra đi,rời xa, 切る/cắt, 別れる/chia tay , 終わる/kết thúc ,hoặc từ 帰る, 出る (biết tại sao mà kiêng dùng cả hai từ này không? Vì từ đó liên tưởng đến việc cô dâu mới cưới họ bỏ đi hoặc bỏ về nhà bố mẹ đẻ đấy.hi), hay một số từ không may mắn như 死ぬ/chết hoặc「枯れる/khô héo ....vân vân...kể ra thì nhiều lắm.

Ngoài ra, ví dụ như khi phát biểu trong đám cưới, gặp các con số như 「四(し)」,「九(く) thì họ sẽ nói tránh thành 「よん」,「ここのつ」 vì âm shi là liên tưởng đến 死ぬ/chết và ku thì liên tưởng đến khó nhọc,khó khăn 苦労.

Thậm chí nếu nói từ cắt bánh cưới, thì họ sẽ không dùng là 「ウェディングケーキを切る」 mà nói tránh bằng từ 「ウェディングケーキにナイフを入れる」
Còn khi thi cử thì tránh một số từ khiến người ta liên tưởng đến việc bị trượt như 滑る/trơn trượt, 落ちる/rụng,rơi..転ぶ /ngã
Bởi vậy nên trước mỗi kỳ thi, người ta lại ồ ạt đi mua loại bánh này để ăn hoặc dành tặng người thân đi thi, đem lại doanh thu không nhỏ cho nhà sản xuất.

Bánh Kitkat dành cho học sinh đi thi

Bởi vì lý do đơn giản, tên của bánh là KitKat tiếng Nhật đọc là キットカットvà khi đọc bằng tiếng địa phương ở vùng Kyushu thì nó có âm gần giống với từ きっと勝つとぉ/nhất định dành chiến thắng. Cách đọc này đầu tiên được phổ biến ở vùng Kyushu sau đó lan rộng ra khắp cả nước Nhật. Ngày nay, nó được coi như là bùa hộ mệnh,đem lại may mắn cho các thí sinh đi thi.
Khi học tiếng Nhật hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác, mình nghĩ rằng chúng ta nên tìm hiểu cả văn hóa và quan niệm của người dân nước đó, để biết được cách suy nghĩ của họ...từ đó ngôn ngữ mà mình sử dụng không chỉ tự nhiên hơn, hay hơn mà còn giúp cho giao tiếp giữa chúng ta với người bản xứ được hài hòa hơn, tránh những tình huống gây cho họ cảm xúc không được vui hoặc khó chịu...
Cảm ơn các bạn đã chịu khó đọc đến dòng này!!!!