Học tiếng Nhật mỗi ngày #03 – Bài dịch news

Sáng nay có một bạn nhắn tin hỏi mình qua facebook, hỏi về từ “đá tàu” mà người Việt mình thường hay dùng tiếng Nhật là gì??

Chắc hẳn nhiều bạn đều biết đó là từ キセル乗車 và nhiều khi còn được nói tắt là キセル hoặc (中間無札(ちゅうかんむさつ) kiểu chỉ mua vé ở ga lên và ga xuống để lên xuống tàu chứ không mua vé ở chặng giữa (入るときと出るときは金を使うが、中間には金を使わない), hoặc từ chỉ mang tính chất chung chung nhất là 不正乗車

Mặc dù là chuyện chẳng mấy vui vẻ và hãnh diện gì, nhưng báo chí nói về những hành vi không đẹp của người Việt khi ra nước ngoài đầy nhan nhản, kể cả tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài. Dù chỉ là chuyện con sâu làm rầu nồi canh nhưng danh dự của một đất nước thì lại là một chuyện khác.

Bài viết dưới đây được trích trên một tờ báo tiếng nhật. Cùng đọc và suy ngẫm nhé các bạn.

Link bài viết : http://www.hotnam.com/news/140412035552.html

------------------------------

世界の「ベトナム人お断り」に自省せよ

あるビジネスウーマンが、香港で開かれた国際見本市でこんな体験をしたそうだ。

Một nữ doanh nhân vừa trở về từ hội chợ quốc tế tổ chức ở Hồng Kông, điều chị ấy chia sẻ là cảm giác xấu hổ.

 500香港ドルを出してチケットを購入し、見学したのだが、その際にベトナム人であることが明記されたバッジが渡された。

そして、ドイツの某技術会社のブースに入ろうとすると、一団の日本人が自由に見学できた一方で彼女は、ベトナム人は入場をお断りしています、とスタッフに告げられたという。

Đã bỏ ra 500 đô la Hồng Kông mua vé vào tham quan, với cái phù hiệu ghi rõ người Việt Nam trên ngực, bỗng nhiên chị bị chặn lại ở cửa vào gian hàng của một công ty kỹ thuật của Đức, trong khi thành viên của đoàn là người Nhật thì vào tham quan thoải mái. Nhân viên của công ty này thẳng thừng thông báo không tiếp đón người Việt.

 事情を知った同じグループの日本人がバッジを貸してくれて、彼女は展示を見ることができたのだが、このトラブルにすっかり興ざめ。見本市の主催者に会って、人種差別ではないかと指摘しようと思ったそうだが、そのブースのスタッフにベトナム人を歓迎しない理由を聞いて、やめた。「盗み」など、様々なトラブルが過去にあったというのである。 この単語が彼女を驚かせ、その恥ずかしさに抗議する気持ちも消え失せたそうだ。

Sau trao đổi, một bạn Nhật cùng đoàn đưa cho chị cái phù hiệu ghi là người Nhật để chị có thể vào xem các sản phẩm quan tâm. Tuy nhiên, sự trục trặc đó đã lấy hết sự hưng phấn nhiệt tình nơi nữ doanh nhân này.

Chị định gặp ban tổ chức hội chợ để làm cho ra lẽ chuyện phân biệt, nhưng đã phải ngừng ý định khi người của gian hàng nói rằng, họ không hoan nghênh người Việt bởi vì đã xảy ra nhiều chuyện phức tạp, trong đó có chuyện “ăn cắp”. Hai từ ấy làm cho một người Việt đang ở nước ngoài giật mình. Nỗi xấu hổ đã ngăn chị phản kháng!

しかし海外にいて、こんな恥ずかしさを覚えたという人は非常に多い。

またその後、ベトナム人に対する冷たい眼差しを生んでいるエピソードを、そのビジネスウーマンが教えてくれた。

Đăng Ký Nhận Tài Liệu

Mình thường xuyên update các bài giảng, tài liệu, kĩ năng học Tiếng Nhật, Bạn vui lòng để lại thông tin để mình gửi nhé!

Đã từng có rất nhiều người nói rằng, khi ra nước ngoài, họ đều từng chịu nỗi xấu hổ đó. Sau này, để tâm tìm hiểu về cái nhìn thiếu thiện chí với người Việt, nữ doanh nhân biết thêm nhiều câu chuyện về hành vi xấu của người Việt ở nước ngoài đã làm hoen ố hình ảnh của dân tộc mình.

日本では多くの駅に、キセル乗車はするな、万引きはするな、監視カメラが設置されているというベトナム語の注意書きが貼られている。ベトナム国内でも中部の5つ星リゾートには、「室内のものを盗めばその物品の価値の3倍の金額を支払ってもらう」とのベトナム語の注意書きがあるが、そこに英語はない。

Tại nhiều ga tàu điện của Nhật, cơ quan quản lý đã để hẳn biển ghi bằng tiếng Việt cảnh báo không nên trốn vé đi tàu, không được ăn cắp, ở đây có lắp đặt camera theo dõi! Ngay trong các resort 5 sao tại miền Trung, thỉnh thoảng vẫn thấy một thông báo bằng tiếng Việt (không có bản thông báo tiếng Anh), rằng nếu khách lấy đi vật dụng trong phòng, sẽ phải chịu trách nhiệm bồi hoàn gấp ba giá trị!

ベトナムには著作権保護について厳しい規定がなく、技術を盗まれた経験から、ベトナム人とは協力したくないという企業は多い。特にソフトウェア分野では、ソフトウェアの著作権を盗み、公然と客に売って、家を買い、高級車を買い、という技術者たちの話は珍しくない。

Nhiều công ty không muốn hợp tác với người Việt vì đã có kinh nghiệm về chuyện bị ăn cắp công nghệ, kỹ thuật, mà luật pháp tại Việt Nam chưa quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền sáng chế.

Đặc biệt trong lĩnh vực viết phần mềm, không thiếu những kỹ sư công nghệ thông tin chẳng mấy chốc đã mua nhà, đi xe tiền tỷ nhờ ăn cắp bản quyền phần mềm, thêm thắt và ngang nhiên đem bán cho khách hàng khác.

ある日本人は、こう話したことがある。「あなた方は、駅で財布からいくらか盗むことはとても悪いことだと言うが、同業者が数億ドンという価値の著作権を盗むことは傍観している。こういった考えが、あなた方民族のイメージを悪くしている。我々はこういった人間とは協力しない」。

Một người Nhật từng nói: “Các anh cho rằng ăn cắp mấy đồng tiền trong ví ở ga tàu điện là rất xấu, nhưng lại rất bàng quan với chuyện đồng nghiệp mình ăn cắp bản quyền sáng tạo trị giá hàng trăm triệu đồng. Chính suy nghĩ đó làm hại hình ảnh dân tộc các anh đó. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận cộng tác với những người như vậy”.

 チャンスを求め海外に行ったベトナム人のなかで、自国のイメージを汚さず将来に信頼という宝を残すために自分は何ができるかと、自問した人はいったいどれくらいいるだろうか。

Mỗi người Việt đi ra nước ngoài tìm cơ hội đã bao giờ tự hỏi, mình phải làm gì để hình ảnh đất mình không hoen ố, như để lại một gia tài về uy tín cho thế hệ tương lai?